Showing posts with label Chuyện Ngắn. Show all posts
Showing posts with label Chuyện Ngắn. Show all posts

Friday, June 23, 2017

Chân Trời Tím Xưa và Nay


Chân Trời Tím Xưa và Nay

Không cần nhắm mắt mới thấy được một chân trời tím ngắt, ngày Chúa Nhật 11 tháng 6, 2017 vừa qua chúng tôi mở mắt rất to mà vẫn thấy "tím cả chiều hoang" trong dịp người bạn trẻ Tôn Thất Hùng tổ chức buổi chiếu phim Chân Trời Tím. 
Thật vậy, từ lúc chiếu phim buổi trưa tới phần Tiếp tân - Họp báo buổi chiều, "theme" của chương trình là một màu tím Huế ngọt ngào. Tím từ những posters hình ảnh, bông hoa trang trí, đến màu cà-vạt áo sơ-mi, đến các tà áo dài, khăn trải bàn, khăn giấy lau miệng, thậm chí cả món cơm chiên cũng là cơm lá cẩm sắc tím thơm ngon.... Tất cả đã tạo một ấn tượng sâu đậm trong lòng người dự, trong đó có chúng tôi.

Tuesday, September 13, 2011

Trầm Thiên Thu: Ngày Xưa (Chuyện ngắn)

Ngày xưa

Ngày xưa, thời còn học tiểu học (nay gọi là cấp I), một thời thơ ngây và hồn nhiên thật đáng yêu. Suốt 5 năm chung lớp, vả lại, Thảo và tôi lại là hàng xóm, nên rất thân nhau. Tôi hơn Thảo 3 tháng tuổi, nên chúng tôi chỉ xưng tên với nhau.

Thảo và tôi không chỉ học chung trường, chung lớp, mà còn học giáo lý chung. Thời đó, chiều nào cũng học giáo lý chứ không chỉ học giáo lý vào Chúa nhật như bây giờ. Tôi nhớ năm đó, Thảo và tôi cùng được Xưng tội và Rước lễ lần đầu, ngay hôm sau lại được ĐGM phụ tá P.X. Trần Thanh Khâm ban bí tích Thêm sức. Với tôi là rất đặc biệt khi được Xưng tội và Rước lễ lần đầu hôm trước, hôm sau lại được Thêm sức ngay.
Hồi đó, tôi hay vẽ hình vua chúa, hoàng hậu, công chúa, hoàng tử, và hiệp sĩ bằng phấn trên nền nhà đất. Thảo thường sang chơi, thấy tôi vẽ cứ lại gần chọc phá tôi, có khi xóa “công chúa” và “hoàng tử” của tôi. Tôi giận quá – vì tôi rất nóng tính – nên tát Thảo một cái như trời giáng. Thảo khóc ơi là khóc. Trời lúc đó đang mưa, Thảo không về được, cứ ngồi khóc nức nở. Phải một hồi lâu sau mới hết, và tôi thấy hối hận. Lúc đó chẳng có ai ở nhà, tôi lén lấy gói kẹo mẹ mua còn để đó để bắt đền Thảo. Nhìn gói kẹo hồi lâu Thảo mới chịu cầm. Trời còn mưa nhẹ, Thảo vừa đi về vừa phụng phịu:
– Nguyên ác lắm, đánh Thảo đau quá đi, về nói bác gái à nghe!
Quả thật tôi nóng quá. Tôi ác thật. Và tôi sợ. Sợ thật. Sợ Thảo méc mẹ và sợ mẹ biết mất gói kẹo. Tôi cầu trời cho không xảy ra chuyện gì. Cả tuần sau chẳng thấy mẹ nói gì cả. Cũng từ hôm đó, tôi chẳng dám rủ Thảo đi học mỗi sáng, và Thảo cũng chẳng sang chơi như trước.
Sáng hôm đó, mẹ định lấy gói kẹo ra gói lại để đi biếu ai đó. Thấy mất gói kẹo, mẹ hỏi mà tôi cứ nói quanh, thế là mẹ mới cho tôi một trận đòn nên thân vì tội lấy đồ khi chưa được phép.
Biết tôi bị đòn, chiều hôm đó Thảo sang chơi, chắc là muốn biết nguyên nhân nhưng không dám vào, cứ thập thò ngoài cửa. Đang làm tập làm văn, thấy vậy nên tôi lên tiếng trước:
– Vào chơi, Thảo!
Thảo lẳng lặng bước vào một cách rụt rè. Tôi vội cười trấn an:
– Thảo giận Nguyên hả?
– Ai bảo…
Thảo cúi đầu buồn buồn. Đôi mắt bồ câu của Thảo hình như long lanh. Tôi vội nói:
– Cho Nguyên xin lỗi. Đừng giận nghe Thảo!
Thảo chợt ngước lên nhìn tôi và tặng tôi một nụ hàm tiếu miễn phí, rồi khẽ nói:
– Lúc đó giận lắm. Bây giờ thì… hết rồi. Thảo muốn đưa cho Nguyên cái này.
Tôi ngạc nhiên, vừa cười vừa hỏi:
– Cái gì vậy?
Thảo đi ra cửa lấy gói kẹo hôm trước tôi bắt đền vào đưa cho tôi:
– Thảo không lấy đâu. Mẹ Thảo nói vậy.
– Thảo cứ cầm đi. Không sao đâu.
– Nguyên xạo Thảo ha!
– Thiệt mà!
– Hồi sáng bác gái đánh Nguyên nè.
Tôi luống cuống như gà mắc tóc, và ấp úng:
– À… ừ… Tại Nguyên bị… điểm bốn đó.
Tôi nói dối vậy để chữa thẹn. Hẳn là Thảo cũng biết, vì Thảo học chung lớp mà. Thảo nhất định đưa lại gói kẹo cho tôi nên tôi đành… để lại chỗ cũ. Ai cũng nhận lỗi về phần mình. Dễ giận mà cũng dễ bỏ qua. Thế là huề. Cứ dễ thương mà cũng dễ ghét!
Từ lần ăn tát tới nay, Thảo “sợ” tôi hẳn. Một điều hỏi, hai điều hỏi, làm tôi đâm ngại. Nhưng nhờ vậy mà tôi bớt nóng tính hơn nhiều. Cảm ơn Thảo. Dẫu sao cũng vui vì đã “bình thường hóa quan hệ”.
Thấm thoát đã lớp Chín. Vậy là Thảo và tôi học chung suốt 5 năm cấp I và 4 năm cấp II. Thời gian qua nhanh quá! Con trai thì vẫn như thường, có khác chăng là tóc biết rẽ đường ngôi, mặc quần áo ủi. Con gái lại khác hẳn từ cách đi đứng tới cách ăn nói. Thảo bây giờ để tóc thề một suối ngang lưng, trông ra dáng một thiếu nữ, e lệ, “hay hay” sao ấy! Nhưng học chung từ nhỏ nên Thảo và tôi vẫn thân thiện như hồi nào.
Thảo dung dị, không kiểu cách, không làm dáng như các bạn cùng trang lứa. Thảo học giỏi và hiền lắm. Tôi không học giỏi bằng Thảo, nhưng tôi rất chăm học nên học lực cũng trên trung bình. Có lẽ đúng như ông bà thường nói: “Cần cù bù thông minh”.
Thi thoảng trường tổ chức mỗi lớp làm một tờ bích báo (báo tường). Tôi có nét chữ “coi được” – như các thầy, cô nói vậy – và tôi còn vẽ phỏng được các hình ảnh ở báo, nên cả lớp đồng ý giao cho tôi “trọng trách” viết và trang trí tờ bích báo của lớp.
Có lần thi đệ nhất lục cá nguyệt (học kỳ I), bài thi Văn của tôi được cô giáo đọc cho cả lớp nghe. Bất ngờ quá! Tôi mắc cở, vì hồi đó tôi nhút nhát lắm, như thỏ đế vậy. Về nhà, Thảo đòi mượn bài Văn của tôi cho bằng được. Tôi khá Văn, còn Thảo giỏi Toán. Qua những việc như vậy, tôi thấy mến Thảo, và ngược lại. Một thứ tình cảm đơn sơ, nhẹ nhàng, và trong sáng của một thời học sinh đáng yêu làm sao!
Hết cấp II, lên cấp III. Tôi đi học nội trú xa. Thảo cũng chuyển trường, nhưng gần đó. Cuối năm học lớp Mười thì đất nước thống nhất, gia đình Thảo chuyển đi nơi khác. Tôi không biết ở đâu. Riêng tôi vẫn ráng tiếp tục học, tuy có bị gián đoạn vài năm.
Không biết Thảo bây giờ làm gì. Nghe vài người quen nói hình như Thảo làm nhân viên ở một tòa soạn báo khá có tiếng. Cứ mỗi lần trời chuyển mưa, tự dưng tôi lại miên man nhớ về Thảo với cái tát “nổ đom đóm mắt” ngày đó, nét bình dị và đôi mắt bồ câu của Thảo. Nhớ ngày xưa như có chút níu kéo, lưu luyến, chưa muốn xa những gì đã xa, dù muốn hay không thì ngày xưa đã vĩnh viễn trôi vào dĩ vãng hóa thành ký ức và kỷ niệm. Không phải vì ích kỷ mà tôi chỉ muốn ôn lại những gì đẹp đẽ và dễ thương, nhất là một người như Thảo, cô bé ngày xưa ấy!
Tôi lấy ra cây viết Thảo đã tặng và viết vài dòng như để gởi cho Thảo vậy:
Tự tình cùng với thời gian
Thảo nguyên bát ngát thắm xanh một màu
Bao nhiêu kỷ niệm ban đầu
Còn trong ký ức pha màu bâng khuâng
Ngày xưa đậm nét vô thường
Như không như có… mênh mang diệu kỳ…
Tứ thời, bát tiết – đến, đi
Lòng người chộn rộn vân vi thất tình (*)
Cây viết đã theo tôi suốt mấy chục năm, dù có cũ với thời gian nhưng vẫn mới với kỷ niệm. Đặc biệt trên cây viết có khắc hai chữ Thảo Nguyên với nét bay bướm. Sự nhút nhát của tôi đã không thể hiểu ngụ ý của con gái. Con gái ký lạ quá. Con gái là một Thế Giới Mới, một Thế Giới Bí Ẩn, hiểu được con gái chẳng khác gì Kha Luân Bố (Colombus) tìm ra Tân Thế Giới (Mỹ châu). Sự hiểu muộn màng có tính tất yếu đặc thù của cái mà người ta thường gọi là tình cảm đầu đời, tình cảm tuổi mới lớn, còn Anh ngữ gọi là Puppy-Love.
Tất cả đã qua, nhưng kỷ niệm sẽ còn mãi, để rồi người ta có những lúc bâng khuâng… Ngày xưa thân ái và đẹp lạ lùng. Thời gian nhìn tới thì dài mà nhìn lại thì sao ngắn quá!
Tình cờ gặp lại mẹ của Thảo trong một lần đi lễ ở Nhà thờ Đức Bà, bác đã già ngoài bát tuần nhưng nhìn bác vẫn còn sinh khí của tuổi già. Chuyện qua lại, tôi thực sự ngạc nhiên khi bác cho biết Thảo đang là Chị Tổng (ngày xưa gọi là Mẹ Bề trên) của một dòng nữ ở giáo phận Phú Cường. Bác nói sắp công chuyện ở Bình Dương và tiện ghé thăm con gái luôn. Bác rủ tôi đi, và tôi hứa sẽ đi với bác. Quả thật, trái đất tròn. Rất tròn! Tạ ơn Chúa luôn quan phòng mọi sự và luôn yêu thương chan chứa…
Tôi chợt nhớ mà ngâm nga một bài thánh ca của thầy tôi là nhạc sư Hùng Lân: “Chúa có mặt trong lịch sử cuộc đời, Chúa có mặt trong lịch sử đời tôi…”.

TRẦM THIÊN THU

(*) Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục.

Thursday, September 8, 2011

Trầm Thiên Thu: Lỡ Dại (chuyện ngắn)

LỠ DẠI


Tôi khép nép đứng bên mẹ với đôi mắt lưng tròng lấm lét nhìn mẹ:
– Xin mẹ tha cho con. Mẹ tha cho con, mẹ ơi!
Mẹ không nói. Đôi vai mẹ run nhẹ. Mẹ chợt quay đi…
o0o
Trời sẫm tối. Tôi “liều mạng” vào quán dì Tư gọi hai ly chè một lượt ăn cho “đã”. Dì hỏi, tôi trả lời quanh co cho xong lần. Vừa ăn vừa hồi hộp. Lỡ rồi, “chơi” luôn. Bụng đánh lô tô suốt. Dì Tư cận nặng, mang kiếng còn chưa nhìn rõ huống chi không. Sợ gì “người trần mắt thịt”. Tôi trả tờ 10.000 đồng rồi biến lẹ. Tôi hí hửng “trả thù” thằng Nam qua mẹ nó.
Vừa đi học về, tôi đã thấy mẹ ngồi sẵn bên bàn và nhìn tôi. Rồi với giọng nhẹ nhàng, mẹ gọi:
– Đông, cất cặp đi, ra đây mẹ bảo.
Như không có gì xảy ra, tôi cất cặp xong đến bên mẹ:
– Dạ, mẹ gọi con.
Mẹ tôi vẫn thản nhiên:
– Con đã làm điều gì gian dối không?
Tôi tỉnh queo:
– Dạ, không. Hôm nay con làm bài kiểm tra được 10 điểm. Con tự làm mà mẹ.
– Không phải chuyện học hành, chuyện khác kìa.
– Không mà mẹ. – Tôi vẫn quả quyết với mẹ chắc như đinh đóng cột.
Đưa tay lấy thanh tre, mẹ vừa quất vào bắp chân tôi vừa nói:
– Con còn cãi mẹ hả Đông?
Tôi òa khóc xin mẹ tha. Hay là…? Tôi chợt nghĩ tới tối hôm qua. Mẹ lấy trong túi ra tờ 10.000 đồng tiền âm phủ đưa trước mặt tôi:
– Tiền của con phải không?
Tôi ấp úng:
– Dạ… dạ… Con xin lỗi mẹ.
– Mẹ đã từng dạy con sống chân thật. Mẹ nghèo nhưng con có phải thua kém bạn bè không? Gian dối là xấu nhất. Mẹ không muốn có đứa con gian dối như thế. Con đói khát lắm sao Đông?
Mẹ nhìn ra xa. Rồi mẹ nhìn tôi và nói tiếp:
– Con đi học giáo lý thế nào? Con có biết điều răn nào cấm lấy của người không? Con không trực tiếp lấy gì của dì Tư, nhưng con lừa dối vậy cũng là một dạng ăn cướp, con biết không? Con không thật thà trong những điều nhỏ thì làm sao con có thể công bằng trong những điều lớn hơn chứ?
Tôi ràn rụa nước mắt:
– Con xin lỗi mẹ. Con hứa từ nay không làm vậy nữa.
– Tại sao con lừa dối dì Tư bên xóm?
Tôi kể lại chuyện thằng Nam làm bể bức tượng Ngộ Không bằng đất sét mà tôi loay hoay nặn cả buổi mới xong. Tức nó nên tôi đã làm chuyện tối hôm qua. Tôi thấy ân hận và xấu hổ về lầm lỗi mà tôi tưởng là đơn giản ấy. Chuyện không đáng gì mà tôi đã đánh mất lòng chân thật. Tôi không ngớt xin lỗi mẹ. Mẹ tôi cứng giọng:
– Con đứng im. Mẹ đánh con một roi nữa để nhớ mà chừa. Lỗi bác ái là tội rất lớn. Chúa dạy con phải yêu thương cả kẻ thù kia mà. Lát nữa con phải sang xin lỗi dì Tư nữa nghe chưa?
– Dạ.
Nhìn mẹ nghiêm mặt, tôi run lên vì sợ. Làn roi thứ hai làm tôi điếng cả người. Đáng buồn hơn là tôi đã làm mẹ buồn lòng, phụ tình thương mẹ. Mẹ quay người đi lặng lẽ…
o0o
Nắng nhạt. Tôi ngồi lặng nhìn những giọt nắng cuối ngày còn vương lại trên mấy tán cây cao. Khoảng chiều trầm lặng hơn mọi khi. Người ta có những lúc miên man trong dòng nhớ kỳ lạ, mặc vẻ bí ẩn. Kỷ niệm tuổi thơ chợt ùa về. Xa mới nhớ, nhớ da diết. Vết sẹo năm xưa còn đó. Nó luôn nhắc nhớ và giúp tôi sống chân thật, không quay cóp mỗi khi làm bài. Tôi không hổ thẹn lương tâm khi tôi còn ngồi ghế nhà trường. Ước mơ dâng cao. Tôi đi dạy, khi đứng trên bục giảng, tôi vẫn luôn dạy cho học sinh lòng tự trọng và chân thật. Ngay cả khi tôi dạy kèm Anh ngữ và Âm nhạc, tôi cũng tìm cách “chen” vào bài học tự trọng và trung thực.
Mẹ ơi! Con cảm ơn mẹ đã dạy cho con một lương tâm tốt. Vết sẹo này không tẩy xóa hết trên da thịt con thì hình bóng mẹ và những gì mẹ dạy con cũng chẳng hề quên! Tháng Sáu về, con càng nhớ mẹ nhiều vì đã 7 năm mẹ xa con, mẹ đã đi vào cõi vĩnh hằng đón Mùa Xuân Vĩnh Viễn rồi. Nỗi nhớ trong con còn hừng hực hơn cái nắng mùa Hè. Thắp nén nhang, con chợt gọi: Mẹ ơi!
TRẦM THIÊN THU


KHÔNG ĐỀ


GIÁO hội do Chúa lập nên

HUẤN quyền được Chúa trao ban từ đầu

hội còn lắm nỗi đau

HỘI nhau lại để bước mau lên đường

CÔNG bình, bác ái rộng lòng

GIÁO đoàn hiệp nhất, Chúa mong từng giờ!

Saturday, August 27, 2011

Trầm Thiên Thu: Vợ Người Chết (Chuyển ngữ & Phóng tác)


V NGƯI CHT

Tác giả Nathaniel Hawthorne (1804-1864)

Chuyện đã xảy ra cách đây gần một thế kỷ…

Tại một hải cảng thuộc vịnh Providence, thủ phủ bang Rhode Island, vào một chiều thu buồn ảm đạm, những hạt mưa thu không ngừng rơi rả rích. Hai cô gái còn rất trẻ đẹp ngồi cạnh nhau bên lò sưởi và an ủi nhau cho vơi đi nỗi đau thương. Họ ở trong một ngôi nhà nhỏ đơn sơ, chỉ có vài đồ vặt vãnh được mang đến từ Ấn Độ và được sắp xếp gọn gàng. Cửa sổ căn phòng trông ra vùng biển rộng bao la. Họ là vợ của hai anh em vừa mới mất trong hai ngày liền. Người anh ra đi trong một cuộc tấn công bất ngờ của quân đội Canada. Người em mất tích trên Đại Tây Dương trong một cơn giông bão mạnh. Dường như cảnh vật cũng động lòng thương cảm cho số phận hai goá phụ trẻ này. Lời cầu nguyện thầm thì của cha mẹ mong cho hai người con bất hạnh đã ra đi sẽ hưởng hạnh phúc vĩnh hằng bên Chúa cũng không làm dịu đi nỗi đau đớn khôn xiết của hai người vợ. Những giọt nước mắt cứ lăn dài trên gò má.

Thursday, August 25, 2011

Trầm Thiên Thu: Mùa phượng vĩ (chuyện ngắn)

MÙA PHƯỢNG VĨ



Thủy Phượng ngồi bàn phía trước tôi. Cô bé khá xinh với mái tóc chảy dài ngang lưng, đôi mắt to và luôn mơ huyền (không hiểu sao tôi lại “ưa” mắt buồn con gái đến vậy!), đôi môi mọng đỏ, và hai bàn tay búp măng thon đẹp (tôi hay để ý tay người khác lắm, quái vạy đó!) – loại tay đẹp mà cố NS Trịnh Công Sơn mô tả: “Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao”.

Phượng học giỏi nhưng “tiết kiệm” lời nói. Không biết có phải người giỏi thì thường có vẻ “lạnh” như vậy hay không! Thấy vậy tôi đâm… “ớn”. Tôi thường ngồi “lì” phía sau huýt sáo hoặc hát nho nhỏ những “mẩu” nhạc “nặng mùi” một chút. Phượng vẫn bình chân như vại, coi như không có chuyện gì xảy ra và không hề ảnh hưởng hòa bình thế giới. Không “ép-phê” chút nào! Tôi chơi luôn “liên khúc”. Vô phương. Người gì mà “linh hồn tượng đá” đến thế cơ chứ! Có những khi tôi phải đành “từng bước từng bước thầm” xuống căn-tin làm ly trà đá cho hạ nhiệt. Sốt tới hơn 40OC cơ đấy! Nếu là thể bệnh thì phải lo cấp cứu rồi.

Friday, August 12, 2011

Trầm Thiên Thu: Bông Hồng Trắng (chuyện ngắn)-Nén Nhang Vu Lan (thơ)

Bông Hồng TRẮNG

Rằm Tháng Bảy được giới Tăng Ni Phật tử gọi là Đại Lễ Vu Lan, dịp đặc biệt để con cái báo hiếu các bậc sinh thành, tổ tiên đã khuất. Theo tín ngưỡng dân gian, Vu Lan còn là ngày xá tội vong nhân. Đây là Mùa Báo Hiếu, những ai còn mẹ thì được gắn Bông Hồng ĐỎ, những ai mất mẹ thì được gắn Bông hồng TRẮNG.
Mỗi năm đến dịp lễ Vu Lan tôi lại cảm thấy “ghen” với những người còn cha mẹ – nhất là còn mẹ, vì tôi thấy họ là những người may mắn! Người Trung quốc xác định: “Phúc đức tại mẫu”. Người có công trực tiếp với chúng ta nhất chính là Cha Mẹ: Mẹ khởi đầu cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc; Cha khởi đầu cho ý chí, niềm tin và sức mạnh.
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau
Vu Lan nhắc nhớ chúng ta về chữ Hiếu mà có lẽ ngày nay có chút gì đó bị lu mờ. Người Việt nói riêng, và người Á Đông nói chung, rất trọng chữ Hiếu. Như vậy, Vu Lan là một nét văn hóa đẹp đáng tôn trọng và duy trì. Điều này hẳn không sai lệch, vì ai trong chúng ta cũng nhờ thừa hưởng từ cha mẹ mà có hình hài, có thân thể này. Sự trao truyền đó là huyết thống. Mọi điều hay, dở hoặc tốt, xấu của chúng ta là niềm vui mừng hoặc đau khổ của cha mẹ. Bổn phận làm con không bao giờ được quên ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ, vì đó là thâm ân, không thể chối cãi, không thể bác bỏ. Thiết tưởng cũng nên biết một chút về lễ Vu Lan – vì nhiều người Công giáo có thể chưa biết rõ!
TÍCH XƯA. Bồ tát Mục Kiền Liên là đại hiếu tử, vì ông đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ.
Sau khi đã chứng quả A La Hán, ông tưởng nhớ và muốn biết mẹ mình thế nào nên dùng huệ nhãn dò tìm. Thấy mẹ rơi vào ngục A Tỳ làm quỷ, bị đói khát, khổ sở, vì đã gây nhiều nghiệp ác, ông đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói lâu nên khi ăn, mẹ ông đã dùng một tay che bát cơm để không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, thế nên khi thức ăn vừa được đưa lên miệng thì lập tức hóa thành lửa đỏ. Quá thương cảm, Mục Kiền Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ. Phật dạy: “Dù ta thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Rằm Tháng Bảy là ngày thích hợp lập trai đàn để cầu siêu, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Phật mà chú tâm cầu cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát”.
Rằm Tháng Bảy là ngày chư tăng tự tứ (kết thúc hạ an cư), dùng thức ăn uống đựng trong bồn Vu Lan cúng dường Tam bảo sẽ được vô lượng công đức, cứu được cha mẹ 7 đời.
Tôn giả Mục Kiền Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan Bồn Pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan Bồn Hội (tiếng Phạm là Avalambana), đó là nghi thức cầu siêu độ cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân thuộc nhiều đời, được cử hành vào ngày Rằm Tháng Bảy âm lịch hàng năm, theo lời Phật dạy trong kinh Vu Lan Bồn. Còn bộ kinh ghi chép sự tích trên thì gọi là Vu Lan Bồn Kinh.
Theo Phật Quang Đại từ điển, Vu Lan theo tiếng Phạm là Ullalambana, cũng gọi là Ô-lam-bà-noa. Hán ngữ dịch là Đảo huyền (nghĩa là “treo ngược” – nỗi khổ của người chết giống như cái khổ của người bị treo ngược, cực kỳ đau đớn), cũng gọi là Vu Lan Bồn Hội hoặc Bồn Hội.
Và thế là mỗi năm, khi ngày này đến gần, các phụ nữ trong gia đình lại bận rộn hơn với công việc chuẩn bị cúng rằm nhớ ơn tổ tiên, lên chùa khấn cầu Phật phù hộ cho gia đình, cha mẹ được bình an phúc đức. Theo truyền thuyết Trung quốc, Vũ đế vương nhà Lương là người đầu tiên cử hành hội Vu Lan Bồn Hội.

Theo Từ điển Văn hóa Cổ truyền Việt Nam, Vu Lan (bồn) là cái chậu đựng hoa quả, phẩm vật dâng cúng. Lễ Vu Lan được cử hành vào Rằm Tháng Bảy âm lịch hàng năm, là lễ dâng các phẩm vật cúng chư tăng đựng trong chiếc Vu Lan để cầu siêu cho vong hồn người thân thoát khỏi địa ngục. Rằm Tháng Bảy âm lịch gọi là ngàu vong nhân xá, là ngày các vong hồn được tha tội. Bởi vậy người ta thường đốt vàng mã cúng gia tiên.
SUY TƯ. Người nào thấy cha mẹ già có vẻ lẩm cẩm một chút hoặc không văn minh hiện đại mà xem thường cha mẹ là có tội lớn. Dù cha mẹ lẩm cẩm bao nhiêu đi nữa, có kém kiến thức hơn mình, hoặc có là gì đi nữa, thì đó vẫn là những đấng sinh thành đáng kính. Chúng ta phải nhớ rằng bản thân mình là một phần thân thể cha mẹ, không thể tách rời, không thể đứng riêng, dù muốn chối bỏ cũng không chối bỏ được. Thân này đã là của cha mẹ mà mình phụ rẫy, vong ân bội nghĩa thì thật vô lý, không xứng đáng là một con người, vì một danh nhân đã nói: “Chỉ có ai biết yêu thương mới xứng đáng nhận danh hiệu con người”. Do đó, lòng hiếu thảo đối với chúng ta là một chân lý. Trên đời này không có ơn nào cao trọng bằng ơn cha nghĩa mẹ. Nếu ơn cao nghĩa dày như vậy mà chúng ta quên đi thì những ơn khác trong xã hội – ơn của bạn bè, tình làng nghĩa xóm, ơn của người vãng lai,… – làm sao chúng ta có thể biết ơn và đền ơn?
Kinh thánh dạy: “Hãy thảo kính Cha Mẹ” (x. Tb 4:3; Hc 3:8), còn Kinh Phật dạy: “Tột cùng thiện không gì bằng CÓ HIẾU, tột cùng ác không gì bằng BẤT HIẾU”. Thật tuyệt! Sau khi Đức Maria và Đức Thánh Giuse tìm thấy Chúa Giêsu và “trách”: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48), nhưng rồi Chúa Giêsu đã theo cha mẹ về Nadarét và hằng vâng phục các ngài (x. Lc 2:51). Vì vậy, lễ Vu lan gợi nhớ tinh thần cao đẹp của chúng ta dành cho tổ tiên. Nghĩ đến tình thương cha mẹ đối với chúng ta như thế nào để cố gắng tu thân, cố gắng đền ơn đáp nghĩa “chín đức cù lao” của song thân phụ mẫu, như thế mới phần nào xứng đáng là người con có hiếu – dù có thể chúng ta không theo kịp “nhị thập tứ hiếu” (chuyện 24 người con chí hiếu).
Hãy thắp một nén nhang mỗi tối và cầu nguyện cho những người đã khuất. Đó vừa là văn hóa vừa là đạo đức vậy!

TRẦM THIÊN THU

Saigon, Mùa Báo Hiếu – 2011




NÉN NHANG VU LAN

Lặng ngồi nhớ Mẹ mùa Vu Lan
Chợt thấy cô đơn với bất an
Con thắp nén nhang bay khói hiếu
Trời mưa triệu hạt khuấy tâm can
Con đây, Mẹ đó – đôi nơi cách
Con khóc, Mẹ cười – một khoảng gần
Có lẽ tên con: Đông giá lạnh
Cho tên Mẹ đẹp: nhánh hoa Lan

TRẦM THIÊN THU
Mùa báo hiếu – 2011

Tuesday, August 2, 2011

Trầm Thiên Thu: Yêu chàng nghệ sĩ (chuyện ngắn)





Yêu chàng nghệ sĩ



Một năm qua, Tâm và Thành hạnh phúc dào dạt, cuộc sống thắm màu như những đóa hồng. Nhưng hạnh phúc là điều dễ có mà khó giữ!

Tâm đi dạy. Đồng lương giáo viên chỉ tạm sống qua ngày với một phụ nữ không đua đòi như cô. Vẻ đẹp tự nhiên của Tâm cộng thêm vẻ thùy mị của phụ nữ đôi khi lại trở thành “chướng ngại vật” trong tình yêu. Sẵn có lòng yêu nghệ thuật, Tâm quen Thành, một người viết nhạc và làm thơ. Dù chưa có album nhạc hoặc tập thơ nào riêng, nhưng tên tuổi Thành chẳng xa lạ gì với giới văn nghệ sĩ. Trai tài, gái sắc – theo nghĩa tương đối – thường dễ phát sinh tình cảm. Thời gian là yếu tố quan trọng đối với hạnh phúc. Tình yêu cần chút mộng mơ lãng mạn để tô đẹp và nuôi dưỡng hạnh phúc, nhưng không phải không cần yếu tố thực tế, nhất là khi con người còn coi trọng vẻ bề ngoài. Một túp lều tranh với đôi trái tim vàng không thể tuyệt đối theo nghĩa đen trong xã hội ngày nay.

Ngoài việc sáng tác, Thành nhận dịch sách và đi dạy kèm để “cải tạo” cuộc sống. Người ta thường gọi là “lấy ngắn nuôi dài”. Nghề gia sư lại quá bấp bênh. Việc sáng tác khác chi “táng xác”. Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh giữa dòng đời, con thuyền nhiều khi tưởng chừng sắp chìm đắm. Tránh sao khỏi những phút giao động. Biển đời không bao giờ hết sóng nên muôn đời biển vẫn động!

Lương giáo viên của Tâm chỉ “khiêm tốn”, nhuận bút của Thành lại quá “nhỏ nhoi”. Vì vậy cuộc sống cứ nặng nề trôi như những đám mây mưa. Mỗi người mang một dòng tâm sự đầy băn khoăn và trăn trở. Cô giáo Tâm mất dần vẻ dịu dàng ngày nào. Còn Thành cũng bớt vẻ điềm đạm ngày trước. Tâm liên tục đi hội họp, nghiệp vụ, công tác, chuyên đề, phụ đạo,…nên nhiều khi không thể cùng chồng ăn chung bữa. Thành đã cảm thấy lo ngại trước những mối đe dọa hạnh phúc và càng nghĩ ngợi nhiều về cuộc đời. Thành tự trách mình bất tài, không tròn bổn phận người chống mũi chịu sào lèo lái con thuyền gia đình. Lòng người, nếu không khéo, rất dễ bị thoái hóa với thời gian khi gặp bước gian truân. Ma lực vật chất có thể khiến người ta “mờ mắt” nếu không có tầm nhìn sâu sắc về thế thái nhân tình. Cần giữ vững lập trường và có một nhân sinh quan đúng đắn.

Trưa nay Thành về trễ. Vừa đẩy cửa vào, Thành vừa hỏi:

– Em về lâu chưa?

Không có tiếng trả lời. Tưởng vợ không nghe, Thành đến đặt tay lên vai vợ và hỏi lại:

– Em về lâu chưa?

Tâm không trả lời mà lại dội ngược câu hỏi:

– Anh đi đâu về trễ vậy?

Nghe giọng trách móc của vợ, nhưng Thành vẫn ôn tồn:

– Hôm nay đại hội nhạc sĩ mà em. Em ăn cơm chưa?

– Anh cứ viết nhạc mãi có được gì? Chẳng có ai nhịn đói mà có thể chơi đàn, cũng chẳng ai rảnh mà nghe nhạc của anh đâu!

Thành nghe lòng nhói đau. Một nguyên nhân thật logic. Thành im lặng bỏ vô bàn viết. Bản thảo ngổn ngang trên bàn. Những nốt nhạc vô hồn và những vần thơ tội nghiệp. Cõi lòng cô đơn. Bất chợt Thành nói một mình: “Tâm ơi! Em hối hận vì yêu anh và nhận thấy việc bằng lòng làm vợ một người đam mê nghệ thuật như anh rồi sao? Em cứ làm theo những gì em muốn và cho là đúng. Thế mà ngày xưa em nói rằng làm vợ một nhạc sĩ nghèo không có gì là xấu!”.

Số phận của những ca khúc thực sự quá khắc nghiệt. Viết được một ca khúc không hề đơn giản, nhưng càng khó hơn để có cơ may phổ biến nó. Ngay cả các bài Thánh ca cũng không ngoài quy luật đó!

Chuyện xung đột vợ chồng không đến nỗi nào, nhưng ai cũng có tự ái riêng, rồi Tâm bỏ về nhà cha mẹ ruột…

o0o

Rất thất vọng và đau khổ khi thần tượng sụp đổ. Khoảng xa cách vô hình càng ngày càng rộng và không lời. Phụ nữ cần những gì biểu hiện bên ngoài hơn những gì trầm lắng bên trong. Nam hướng nội, nữ hướng ngoại. Đa số nguyên nhân sâu xa chuyện rắc rối gia đình xảy ra hầu như bắt đầu từ phụ nữ. Vì thế sự nông nổi phụ nữ thường là nguyên nhân chính trong các cuộc ly hôn. Hạnh phúc gia đình tan vỡ gây nên vết thương khó lành. Ai cũng biết nghệ sĩ là người yếu đuối trong tình cảm, vì họ dễ cảm xúc trước mọi vật, trước những gì thơ mộng, đã khiến nhiều người nhìn họ bằng ánh mắt thiếu thiện cảm, không mấy tin tưởng. Nghệ sĩ còn tùy mỗi người. Tâm dù là giáo viên cũng không thoát khỏi chuyện “nhi nữ thường tình”.

Nửa năm sau, nhìn Thành già hẳn đi. Thành hiểu và thông cảm cho vợ. Hoàn cảnh đẩy đưa, số phận run rủi, muốn thoát khỏi mà không dễ. Ngay cả người đầu ấp tay gối cũng rời xa. Con người luôn là thụ tạo bất túc và bất trác. Thiếu bóng dáng phụ nữ trong gia đình tạo nên một khoảng trống lớn. Ngoại cảnh chi phối, việc sáng tác của Thành “xuống tay” hẳn. Nghĩ mà buồn cho thân phận. Người Pháp chí lý khi nói: “L’argent est un servant bon, mais il est un maitre mal” (Tiền bạc là đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu). Không tiền, tình cảm cũng dễ sa sút, thậm chí có thể mất. Hạnh phúc chợt trở nên vời vợi!

Thành đơn giản hóa cuộc sống bằng mì gói. Bữa ăn thất thường. Về đến nhà, Thành mỏi mệt, không màng bỏ cái gì vô bụng dù vẫn muốn ăn. Dạo vài phím guitar mơ hồ… Buông đàn, Thành gục ngủ ngay trên bàn viết. Ngoài kia cơn mưa ập xuống bất chợt. Tiếng mưa như cắt khúc ra, nhỏ dần bên tai Thành…

Bàn tay đặt nhẹ và tỏa hơi ấm lên vai khiến Thành tỉnh giấc. Mưa vẫn tí tách như những tiếng đàn thánh thót.

– Sao anh không lên giường ngủ mà ngủ gục ở đây?

Thành dửng dưng. Tìm cây bút viết tiếp vài hàng. Tâm choàng tay qua cổ chồng, âu yếm nói:

– Em xin lỗi anh.

– Có gì mà lỗi. Giận người khác là tự làm khổ mình thôi.

Ngừng một chút, Thành hỏi:

– À, lâu nay em bỏ dạy sao?

– Không, em vẫn đi dạy.

– Em ghé về có chuyện gì không?

Tâm nghẹn lời, nói trong nước mắt:

– Em… về với… anh. Hãy… tha lỗi… cho em!

Niềm vui reo trong lòng vì bản chất Thành rất dễ tha thứ. Gương vỡ lại lành. Hạnh phúc nhân đôi. Tiếng nấc làm đôi môi Tâm rung nhẹ. Thành đứng dậy ôm vợ vào lòng. Nụ hôn lại nồng nàn như thuở đầu. Nụ hôn ngọt ngào vị yêu thương và tha thứ.

– Đừng khóc nữa em. Hạnh phúc đơn giản và không hề xa vời.

– Xin anh tha thứ… cho em, và hãy cho em một cơ hội sửa sai.

Thành đều giọng:

– Anh không giận em. Vì vậy không có gì phải tha thứ. Nếu phải tha thứ thì anh đã tha thứ cho em từ khi em chưa xin lỗi kìa. Anh muốn noi gương thứ tha của Chúa Giêsu. Anh chỉ buồn vì đã không lo được cho em đầy đủ để em hờn trách như thế.

– Tại em hết. Anh đừng nhắc lại nữa. Anh không trách em là em thấy vui nhiều rồi.

Môi lại chạm môi để nối tiếp nụ hôn sâu. Sực nhớ điều gì đó, Thành vừa cười vừa nói:

– Em nè, sáng nay anh vừa được tin Trung tâm Băng nhạc FaLaDo sẽ thu và phát hành cho anh một album nhạc, còn Nhà xuất bản sẽ in một tập thơ của anh nữa. Em đặt tựa cho cả hai nhé!

– Không. Anh đặt mới hay.

– Anh muốn dành cho em quyền đó. Hy vọng mọi chuyện êm xuôi và sớm hoàn thành để anh toại nguyện và chúng mình cũng có thêm ít vốn.

Mắt thoáng nét buồn, Tâm nhìn chồng và nói:

– Không. Em về không phải vì tiền. Em về với anh bằng cả con tim, chàng nghệ sĩ của em à!

Ngoài trời vẫn mưa nhẹ. Không phải tháng Bảy mà trời bỗng mưa ngâu. Ngưu Lang và Chức Nữ lại gặp nhau, nhưng không phải gặp rồi xa mà để ở bên nhau mãi mãi. Hạnh phúc đan quyện và reo vui. Những hạt mưa ngoài kia cũng hòa điệu với họ trong một giai điệu tuyệt vời…

Bây giờ họ thực sự cảm nhận sâu sắc Lời Chúa: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 6). Không biết ngẫu nhiên hay được tiền định mà ghép tên họ thành một điều rất quan trọng trong cuộc sống đời thường: Thành Tâm.

TRẦM THIÊN THU

Monday, June 20, 2011

Trầm Thiên Thu: Hương Tình Đầu (chuyện ngắn)

Hương tình đầu


– Dạ, chào bác.
– Chào cháu.
– Loan đi học chưa bác?
– Nó sắp đi đó. Loàn à, đi học đi con. Vọng đợi con nè.
Chẳng cần mẹ nói tên, tôi cũng đã biết đó là tiếng của Vọng. Hàng ngày Vọng vẫn qua rủ tôi đi học. Nhà Vọng cách nhà tôi một mặt đường và một khu vường rộng. Đường đến trường chỉ mất khoảng 15 phút, nhưng chúng tôi thường đi sớm 5 phút để khỏi vội vàng.
Tôi học lớp 11, Vọng học lớp 12. Vọng hơn tôi một tuổi. Vả lại, tình láng giềng giữa hai gia đình rất đậm đà thân thiết, coi nhau như ruột thịt, nên tôi vẫn gọi Vọng là anh. Nghe tiếng anh, tôi cũng vừa chải đầu xong. Thường ngày tôi ra ngay, nhưng hôm nay tôi còn nấn ná chút xíu, vuốt lại mái tóc, ngắm mình trong gương với một thoáng kiêu sa. Con gái có những nét “kiêu” vậy đó. Lâu quá, không thấy tôi ra, mẹ giục:
– Đi học, Loan à. 7 giờ kém 15 rồi.
Tôi lẳng lặng đi ra, dịu dàng nói:
– Thưa mẹ, con đi học.
Vọng họa theo:
– Thưa bác, con đi học.
Mẹ tôi khẽ gật đầu, nói:
– Ừ, các con đi học kẻo trễ.
Hàng ngày mẹ tôi vẫn thường lặp lại cái điệp khúc đơn điệu đó, không gì lạ, nhưng hôm nay, hai tiếng “các con” làm tôi e lệ làm sao ấy! Tôi thấy “giận” mẹ vô cớ… Và tự dưng tôi cũng “ghét” lây qua Vọng.
Ra khỏi cổng, tôi lặng lẽ lên xe, không cười không nói huyên thuyên như mọi ngày. Vọng đạp xe bên tôi một cách “ngoan ngoãn”. Đi một đoạn đường khá xa mà không ai nói với ai. Không khí có vẻ nặng nề, Vọng”cứu vãn” bâng quơ:
– Trời hôm nay hơi lạnh.
Tôi vẫn “bằng chân như vại”, chẳng thèm đếm xỉa tới câu nói “tội nghiệp” ấy. Giá như mọi ngày, tôi đã sôi nổi góp chuyện, thậm chí nhiều khi tôi vẫn hồn nhiên “khai mào” trước chứ đâu như hôm nay. Tôi nghĩ:
– Cũng lạnh thật.
Vọng chuyển đề:
– Hôm nay sao vậy? Bệnh hả?
Trời ơi, tức không chứ? Nói trống vậy đó. Lại còn trù ẻo cho người ta bệnh nữa. Ăn nói gì mà không có chủ từ gì cả. Như được nước, được đằng chân lân đằng đầu, như lửa thêm dầu, tôi càng lặng im một cách khó chịu. Vọng hỏi dồn:
– Làm bài tập Anh văn xong chưa?
Tôi trả lời cộc lốc, nhưng không dám xẳng giọng:
– Chưa.
– Sao vậy?
– Khó.
– Sao không đưa mình chỉ cho?
Tôi “đóng băng”. Có bao giờ tôi bất lịch sự vậy đâu chứ?
Vọng chẳng bao giờ xưng “anh” hoặc “tôi” với tôi, ngay cả với bạn bè hoặc những người nhỏ hơn, mà chỉ xưng là “mình”, có kẹt lắm mới xưng “tôi”. Tiếng “mình” của Vọng thật thân ái và dễ thương, nhưng lúc này sao tôi thấy “ghét” ghê!
Vọng khá Anh văn. Khi có gì không hiểu, tôi vẫn hỏi Vọng. Cả ngày Chúa Nhật hôm qua, tôi đã định sang nhờ Vọng giảng lại mấy chỗ khó. Cứ đứng dậy lại ngồi xuống. Cuối cùng, tự ái đã giữ tôi lại. Chỉ vì hôm thứ Bảy vừa rồi…
Không thấy tôi nói gì, Vọng tiếp:
– Khó phần nào? Grammar hay tense?
– Cả hai.
Hình như Vọng chau mày và lên giọng:
– Bài nào?
– Ai biết!
Vẫn giọng điệu cộc lốc như một đoạn nhạc ngắn có nét staccato với những nốt nhạc rơi xuống khô khốc. Vọng im lặng. Tôi cũng thi gan nối tiếp khoảng im lặng. Thế là suốt quãng đường còn lại chẳng ai nói gì.
Hai tiết đầu là Anh văn. Tôi còn đang loay hoay mở sách, bỗng nghe thầy gọi:
– Nguyễn Kiều Phượng Loan.
Hèn chi sáng nay mắt phải tôi nháy hoài! Tôi lững thững cầm tập lên đưa cho thầy kiểm tra. Bỗng mắt thầy dừng lại và ngước lên nhìn tôi.
– Sao em không làm hết bài?
– Dạ, hôm qua em nhức đầu quá. Em còn thiếu mấy câu sau.
– Đây là lần đầu tiên, thầy tha. Lần sau em không được như vậy nữa, nghe chưa? Thầy cho em 5 điểm.
– Dạ.
Tiếng “dạ” của tôi nhẹ đến nỗi hầu như không nghe rõ. Trời đất như quay cuồng. Tôi cúi gằm mặt về chỗ. Mắc cở quá! Và hình như tám mươi con mắt đang đổ dồn về phía tôi. Nhức đầu chỉ là cái cớ.
Cái se lạnh của mùa Đông đang ấm dần với những tia nắng bình minh. Tôi thả hồn mơ màng trong ánh nắng, giận hờn vu vơ… Hai tiết học nặng nề trôi. Giờ ra chơi tôi cũng không buồn rời chỗ. Hồng “quậy” sà tới chỗ tôi.
– Ê, sao còn ngồi đó như ông địa vậy?
Tôi không “phản pháo”. Mắt hơi cay.
– Nghe tao nói không, mày? “Nắm lấy cô” (1) là trung bình rồi. Có gì mà buồn?
Tôi uể oải lắc đầu rồi gục mặt xuống bàn. Yến “lãng mạn” cũng “bay” đến rồi cao giọng:
– What happens? (2)
Hồng phụ họa rất… Tây:
– I don’t know. Maybe she’s crying now! (3)
Yến vẫn giọng “lai căng”:
– Thôi mà “mít ướt”, my little princess! (4)
Bộ ba chúng tôi vẫn thường có những mẩu đối thoại “bỏ túi” như vậy để “thực hành”, kiểu Anh ngữ thực dụng. Tôi vẫn ngồi lì một chỗ. Hồng chạy đi một lát rồi trở lại với bịch cóc, ổi. Hai đứa nó ăn ngon lành. Tôi thèm muốn chết nhưng vẫn cố nén lòng cho ra vẻ “lâm ly bi đát”. Lỡ rồi, phóng lao phải theo lao. Chơi luôn! Yến nói giọng cải lương:
– Phải chăng cô nương đã bị “mũi tên tình ái” bắn trúng quả tim rồi chăng?
Hồng thêm vào:
– Hay là “tiếng sét ái tình” đã đánh trúng cô nương?
Hồng và Yến cười như nổ điện đường dây cao thế. Tôi giận điên lên được, đứng phắt dậy và quát:
– Im!
Trống điểm vừa đúng lúc vang lên. Ba tiết sau lại nặng nề trôi. Các câu thơ và các phản ứng hóa học cứ đua nhau nhảy múa trong đầu tôi. Tôi lơ đãng nhìn vào khoảng không ở phía tấm bản trước mặt, chẳng để ý gì đến lời giảng…
o0o

Thursday, June 16, 2011

Trầm Thiên Thu: Hắn (Chuyện ngắn)


Hắn

– Ê mày, hắn kìa!
– Chàng của mày đó.
Trinh kéo giọng:
– Hổng dám đâu!
Hai đứa phá lên cười. Con gái thường “tinh ranh” và “quậy” không kém gì con trai, nhất là những lúc chỉ có riêng họ.
Hằng và Trinh học chung lớp. Nhà gần nhau, Hằng vẫn sang nhà Trinh cùng học. Chiều chiều, hai đứa ngồi tán dóc sau khi làm bài xong. Họ “phát hiện” một anh chàng thường ngày đi ngang qua trên chiếc xe “màu thời gian” trông rất… tội nghiệp. Đủng đỉnh và nghiêm trang như một vị chân tu. Trời nắng cũng như trời mưa, hắn cứ giữ tốc độ đều đặn. Có khi Hằng và Trinh cố ý cười hoặc nói lớn, thậm chí còn gọi “anh thời gian ơi” mà hắn vẫn “phớt tỉnh Ăng-lê”, coi như “không có gì đặc biệt dưới vòm trời này”. Chẳng biết tên tuổi, không biết lý lịch trích ngang của hắn ra sao. Con trai ít nói thì gợi tính tò mò của con gái. Chàng nào ba hoa thì các nàng “cắt đuôi” sớm, bỏ của chạy lấy người, gài số “de” lẹ. Đời có những điều “trớ trêu” vậy đó!
Trinh đẹp sắc xảo, gia đình khá giả, chưng diện “mắc tiền” hơn bằng những thứ “hàng hiệu”. Hằng mồ côi từ nhỏ, sống với dì ruột, nên Hằng không dám “trèo cao”. Có lẽ vì vậy mà Hằng càng dễ thương hơn với nét nhu mì, hiền thục, duyên dáng, dịu dàng “thiên phú”. Phải rồi, Hằng rất “con gái”. Tuy nhiên, cả hai không có gì mâu thuẫn dù Trinh hiếu động, còn Hằng trầm mặc và thường đăm chiêu nhìn về dĩ vãng xa ngái…
Hằng chỉ biết mặt Ba qua tấm hình Má giữ làm kỷ niệm, và cũng là di ảnh cuối cùng của Ba. Nghe Má kể rằng Ba là dân “taru” (tu ra, tu xuất), có “gốc tu” nên ngăn nắp, gọn gàng, hiền lành, chân thật, người tầm thước và điển trai, hơn Má 5 tuổi. Ba Má thương nhau lắm. Cưới nhau rồi, Ba vẫn tiếp tục học đại học. Ra trường, Ba trở thành kỹ sư xây dựng và thường phải đi công tác xa. Không may Ba bị chết trong một vụ tai nạn lao động. Má phải tảo tần nuôi con thơ. Bảy tuổi đầu, Hằng lại mất luôn người Mẹ thân yêu nhất trên đời. Má chết trong vụ lật xe ở đèo Bảo Lộc. Mười một năm qua nhanh như một thoáng chiêm bao.
– Mày lại khóc rồi.
Hằng lau nước mắt. Trinh nói tiếp:
– Mày khóc cũng chẳng lợi lộc gì. Ai cũng có những lúc buồn, thậm chí rất buồn, nhưng phải cố vượt qua mà sống. Người chết yên phận rồi. Tao chẳng giúp gì hơn được cho mày. Hay là… mày qua đây ở với tao đi, Hằng!
Hằng trầm giọng:
– Đâu được. Còn mẹ con dì Phương nữa. Nhờ dì mà tao mới được như hiện nay. Không lẽ lúc bơ vơ, tao được dì đùm bọc, nâng đỡ, giờ tao lại…
– Ờ há!
– Tao không biết phải làm gì sau khi học xong để phần nào giúp đỡ dì nữa.
– Trời sinh voi, trời sinh cỏ. Hơi đâu mà lo cho tổn thọ.
– Thôi, muộn rồi, tao về nghe!
o0o
Cuối cùng Hằng và Trinh cũng biết được lai lịch của hắn.
Thiện đang là sinh viên năm cuối trường Đại học Bách khoa. Họ đã quen nhau trong một dịp sinh nhật anh Vương, người anh họ của Trinh. Thiện không đi tu nhưng nhìn tướng rất… tu, dễ tưởng là tu sĩ lắm. Thiện chịu khó đi lễ, tích tham gia sinh hoạt giới trẻ, ca đoàn, và các hoạt động tôn giáo trong giáo xứ nơi anh trọ học.
Hai mẹ con dì Phương đến nhà cô chủ nhiệm của em Liên. Hơn 6 giờ chiều rồi mà mẹ con dì vẫn chưa về. Hằng mở radio thì chương trình ca nhạc đang phát bài Con Thuyền Không Bến của Nhạc sĩ Đặng Thế Phong: Đêm nay Thu sang cùng heo may, đêm nay sương lam mờ chân mây, thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng, như nhớ thương ai chùng tơ lòng… Tiếng hát nhẹ vang lên dặt dìu theo giai điệu êm đềm, chuyển tải lời ca man mác buồn. Cuộc đời đôi khi chẳng khác gì một con thuyền không bến!
– Mơ mộng gì mà đăm chiêu vậy, cô nương?
Tiếng nhỏ Trinh làm Hằng… hết hồn. Rồi Hằng lại muốn “đứng tim” khi thấy có cả hắn nữa. Chúa ơi! Không dưng sao mà… ru… un quá đi! Những rung động đầu đời vây quanh làm cho Hằng lúng túng. Hằng lí nhí:
– Anh Thiện… và Trinh… đến chơi.
– Làm gì như khỉ mắc phong vậy?
Thiện chỉ lặng cười. Trinh thao thao bất tuyệt. Mấy người lí lắc ham… nói, nhưng đôi khi cũng thực sự có lợi trong những trường hợp như thế này. Sau một hơi nói dài như dòng sông Mississipi, Trinh kết thúc:
– Xong bổn phận. Tiểu muội xin cáo từ để “chư vị” tự do “đàm luận”.
Cờ ở thế bí. Domino triệt buộc. Hết nước. Hằng nói như nói cho chính mình nghe:
– Mời anh… ngồi chơi.
– Được rồi. Hằng cứ để tôi tự nhiên. Có gì đâu mà khách sáo. Mà sao Hằng lúng túng quá vậy?
– Anh đến bất ngờ quá, Hằng không kịp chuẩn bị gì cả.
– Lẽ ra tôi phải báo trước mới phải. Nhưng ngày mai tôi đi sớm rồi, sợ không gặp được Hằng. Tôi đưa đến cho Hằng cuốn sách mà Hằng nhờ mua. Nhưng tìm hoài không ra, tôi mua cuốn “Quẳng Gánh Lo Đi Mà Vui Sống” của dịch giả Nguyễn Hiến Lê. Đọc được lắm.
– Dạ. Ngày mai anh về quê hả?
Thiện gật đầu, giọng buồn buồn:
– Có thể về luôn.
– Sao vậy anh? Anh chỉ còn năm cuối mà?
– Biết sao được khi hoàn cảnh không cho phép. Lực bất tòng tâm.
Trời ơi! Cuộc đời khắc nghiệt đến vậy sao? Không ngờ hoàn cảnh của Thiện cũng khó khăn không kém. Thậm chí còn là nghịch cảnh nữa. Vừa chớm biết yêu, đời con gái bắt đầu nếm vị ngọt tình yêu thì cũng là lúc con tim nếm vị đắng. Chợt buồn và dỗi hờn vô cớ. Lây nhiễm nỗi buồn từ ai?
– À, dì không có nhà sao, Hằng?
– Dạ. Dì em đi công chuyện.
– Hằng thích đọc cuốn này chứ?
– Dạ. Em cũng thích loại sách học làm người. Anh về quê, chừng nào trở lại?
– Làm sao biết trước được. Để về xem sao đã. Nếu có cơ hội, tôi sẽ cố gắng hết sức.
Hằng im lặng. Biết bao giờ có cơ hội hả anh? Có khi dịp may chỉ đến một lần. Chỉ một lần thôi, anh ơi! Bao ngày anh đã ngang qua ngõ nhà, bây giờ… Vâng, bây giờ anh lại ngang qua ngõ hồn em. Thời áo trắng sắp qua. Sau niên học cuối cấp này, em cũng chưa biết mình ra sao nữa. Tình yêu là gì vậy anh? Anh đi rồi còn có nghĩ đến khu phố nhỏ này không? Hay là…
Những tư tưởng cứ đan xen nhau trong trí óc Hằng. Hình như Hằng không nghe thấy, và Hằng cũng không muốn nghe khi Thiện nói lời từ giã:
– Hằng cố gắng học. Nếu có điều kiện, hy vọng khi trở lại đây, tôi được nhìn thấy Hằng đã là một cô giáo như Hằng vẫn mơ ước, Hằng nhé!
Cuộc chia tay nào cũng để lại lưu luyến, bâng khuâng…
o0o
Hằng nhẩm đi nhẩm lại mấy câu thơ của thi sĩ nào đó đã viết:
Rồi ai cũng thấy cô đơn
Khi trời vương nắng hoàng hôn màu buồn
Nhìn bóng mình ngã trên đường
Ngỡ rằng người chợt nhớ thương tìm về
Cây đã thay lá năm lần rồi. Anh vẫn biệt tăm. Nỗi buồn kỳ lạ và khó tả. Hằng nói với chính mình: “Anh chưa có dịp trở lại hay anh không muốn? Bây giờ em có thể hiểu hết ý nghĩa cuốn sách anh mua tặng em ngày anh về quê. Như vậy là em còn may mắn hơn anh là được học xong đại học. Còn anh bây giờ ra sao? Em rất nhớ anh mỗi khi giảng bài cho học sinh. Vâng, em đã là cô giáo. Ước mơ của em, và cũng là ước mơ anh dành cho em, đã trở thành hiện thực. Em vẫn luôn tin có một ngày anh trở lại, dù em biết hy vọng đó rất mơ hồ. Khoảng trống trong em mênh mông quá! Em có thể làm gì cho anh? Có ai thuộc và hiểu hết bài học chờ đợi đâu anh. Thời gian lúc nào cũng rất vô tình…
– Thưa cô, cô có thư.
– Cảm ơn em.
Hằng vội mở lá thư. Anh “trở về” thật đúng lúc, và cũng đúng như lời anh đã hứa năm nào. Vậy là em đã không uổng công chờ đợi. Cảm ơn anh!
…, ngày… tháng… năm…
Hằng mến,
Vậy là em đã là cô giáo. Lúc này em đang đứng lớp hay ở nhà? Còn Trinh thế nào? Em cho anh biết tin nhé!
Anh sẽ trở lại thành phố để học lại năm cuối mà anh đã phải bỏ dở. Đầu niên học này, khi em cùng học sinh tựu trường, anh sẽ có mặt ở thành phố.
Em và anh đều gặp nghịch cảnh, nhưng không vì thế mà nản chí sờn lòng. Anomy Mour nói: “Con đường hay nhất để thoát gian khổ là đi xuyên qua nó”. Giữ vững lòng tin và có nghị lực, chúng ta sẽ vượt qua tất cả. Điều gì cũng có tính khả thi riêng của nó. Em đồng ý với anh chứ?
Đừng buồn nhiều. Hãy vững lòng tin vào Lòng Chúa Thương Xót. Hãy ngước nhìn lên cao và nhìn về phía trước. Cánh diều bay cao vút là nhờ gió thổi ngược. Chính Chúa Giêsu phải chịu chết rồi mới phục sinh khải hoàn kia mà. Thời gian dẫu vô tình nhưng lại rất cần thiết. KHÔN hay DẠI đều chết, chỉ những ai BIẾT mới sống. Chính gian truân tôi luyện người ta thành nhân, em ạ!
Hẹn gặp lại em.
Thân ái,
Nguyễn Hùng Thiện
Hằng khoan thai đứng dậy. Nắng ngập sân trường. Nụ cười tươi nở trên đôi môi cô giáo trẻ. Tiếng trống vào học đưa Hằng về thực tại với công việc. Từ văn phòng tới lớp, trong đầu Hằng cứ âm vang lời ca: “Say you wil, say you will be mine…”. Hằng thầm tạ ơn Chúa vô cùng, dù trông lên chẳng bằng ai. Hằng nhớ lời Chúa Giêsu đã hứa: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Tôi, và hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Tôi êm ái, và gánh Tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30), và Hằng thành tâm cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin nâng đỡ và thánh hóa chúng con, vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.
TRẦM THIÊN THU